Kính thưa quý vị,
Nếu ta đặt câu hỏi này với một Giáo dân, thường thì câu trả lời sẽ là: Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, đã xuống thế làm người và chịu đóng đinh trên thập giá để cứu chuộc nhân loại. Sau ba ngày, Ngài đã phục sinh và lên trời về với Chúa Cha. Đó là những gì mà Kinh Thánh dạy cho các tín hữu.
Nhưng đối với các nhà sử học thì câu hỏi đầu tiên được đăt ra là: Chúa Giêsu có đã tồn tại hay không? Câu hỏi này đã và vẫn tiếp tục gây nhiều tranh luận cho tới ngày hôm nay. Có những nhà nghiên cứu bác bỏ hoàn toàn sự hiện hữu lịch sử của Chúa Giêsu, những người khác thì công nhận Chúa Giêsu là một nhân vật có thật, nhưng cuộc đời của Ngài không giống như những gì mà Giáo hội rao giảng.
Câu hỏi thứ hai là: nếu Chúa Giêsu thật sư đã tồn tại thì cho tới nay, ảnh hưởng của Ngài đối với nhân loại là như thế nào? Cho dù không phải là một tín hữu, chúng ta cũng phải công nhận rằng Chúa Giêsu là một nhân vật quan trọng của lịch sử thế giới và tư tưởng của Ngài chính là một trong những nền tảng của văn minh nhân loại.
Là một giáo dân, nhưng từ lâu tôi vẫn muốn tìm hiểu thấu đáo hơn về Chúa Giêsu dưới góc độ lịch sử. Tôi lập riêng blog này đã chia sẽ những gì đã nghiên cứu được về Chúa Giêsu qua những tài liệu sách báo mà tôi đã sưu tầm trong mấy năm qua. Nếu có ai đó quan tâm đến đề tài này hoặc muốn tranh luận, có thể gởi bài đến để đăng trên blog này. Nhưng xin quý thông cảm, do thời giờ có hạn, nên việc viết lách và đăng tải có thể không được nhanh như ý muốn, nhưng ít ra quý vị có thể theo dõi trực tiếp trên blog tiến triển của " công trình nghiên cứu" này.
Trân trọng kính chào.
Thứ Ba, 13 tháng 12, 2011
Thứ Năm, 21 tháng 4, 2011
Mối quan hệ giữa Chúa Giêsu và nữ Thánh Maria Mácđala
Trong các nghiên cứu về Chúa Giêsu, nếu có nhân vật nào làm tốn hao giấy mực nhất, thì đó có lẽ là Maria Mácđala. Bà là nữ Thánh nổi tiếng nhất trong các nữ Thánh, ngoại trừ Mẹ Maria. Theo các sách Phúc Âm, Maria Mácđala là người đầu tiên nhìn thấy Chúc Giêsu phục sinh. Nhưng cuộc sống của bà sau đó là như thế nào, người ta chẳng được biết bao nhiêu. Thành ra có rất nhiều huyền thoại được thêu dệt chung quanh nhân vật này ngay từ những thế kỹ đầu tiên sau Công Nguyên. Các hoạ sĩ thời xưa cũng đua nhau tôn vinh nữ Thánh Maria Mácđala, sắc đẹp biểu tượng cho đức tin Kytô giáo.
Ngay cả đến bây giờ, sức hấp dẫn của Maria Mácđala vẫn không suy giảm. Bằng chứng là cuốn sách Da Vinci Code của Dan Brown, khai thác huyền thoại Maria Mácđala, đã lôi cuốn không biết bao nhiêu là độc giả trên toàn thế giới, cho dù tác giả đã nhấn mạnh đây chỉ là tác phẩm hư cấu. Sử dụng một cách tài tình những điạ danh có thật, những nhân vật trong Phúc Âm, các tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng, những chức sắc Giáo hội trong lịch sử và những tổ chức bí ẩn, Dan Brown đã " xào nấu" lại một giả thuyết có từ ngàn xưa: Maria Mácđala là.. . tình nhân của Chúa Giêsu, đã có với Ngài một đứa con và Giáo hội sau đó đã làm đủ mọi cách để " ém nhẹm " việc này.
Giả thuyết này có lẽ xuất phát từ những Phúc Âm như Phúc Âm theo Thánh Maria, mà người ta cho là của Myriam de Magdala, nhưng nguồn gốc chính xác không biết là từ đâu và được chép lại vào đầu thế kỷ thứ 5. Sách này mô tả Maria Mácđala như là người bạn gái rất thân của Chúa Giêsu, người mà Chúa truyền dạy những điều bí hiểm nhất. Trong một Phúc Âm khác gọi là Phúc âm Theo Thánh Philippe, có một đoạn rất kỳ lạ: " Chúa yêu Maria hơn tất cả các môn đệ và Ngài thường hôn lên miệng nàng".
Thật ra, Phúc Âm theo Thánh Philippe là một sách thuộc loại gnostique. Những người theo phái gnostique tin rằng, vào thuở khai thiên lập địa, người nam và người nữ được tạo ra cùng lúc, chứ không phải người nữ được tạo ra từ xương sườn của người nam. Họ nghĩ rằng sự cứu rỗi thế giới sẽ đến từ đôi nam nữ. Trong số các nghi thức của họ, có việc hôn lên miệng như là biểu tượng của việc " trao đổi, hòa hợp hơi thở của nhau".
Nhưng nhìn từ khía cạnh lịch sử, câu hỏi được đặt ra vẫn là: Maria Maéđala thật sự là ai? Nếu chỉ đọc bốn quyển Phúc Âm chính thống, thì thật khó mà có lời giải đáp cho câu hỏi này. Sách Phúc Âm theo Thánh Luca khi kể về Chúa Giêsu đi qua các làng mạc, thành phố để loan báo Tin Mừng, có đoạn: " Sau đó, Ðức Giêsu rảo qua các thành phố, làng mạc, rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Cùng đi với Người, có Nhóm Mười Hai và mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh. Ðó là bà Maria gọi là Maria Mácđala, người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ, bà Gioanna, vợ ông Khuda quản lý của vua Hêrôđê, bà Susanna và nhiều bà khác nữa. Các bà này đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Ðức Giêsu và các môn đệ."
Đoạn văn này đáng chú ý hơn nữa là vì trong các Phúc Âm, các phụ nữ ít khi nào được kể tên. Maria Mácđala thì được nói đến như là một phụ nữ giàu sang, hay ít ra là thuộc thành phần khá giả. Mặt khác, sau khi đã trung thành theo Chúa cho đến khi Ngài chịu đóng đinh trên thập giá và sau khi đã dự vào việc chôn cất Chúa, bà đã cùng với các phụ nữ khác mua dầu và thuốc thơm để tẩm liệm cho Ngài : "Rồi các bà về nhà, chuẩn bị dầu và thuốc thơm. Nhưng ngày sabát, các bà nghỉ lễ như Luật truyền" ( Phúc Âm theo Thánh Luca ). Maria Mácđala cũng là người đầu tiên nhìn thấy Chúa sống lại từ cõi chết.
Một Maria khác vẫn thường bị nhầm với Maria Mácđala, đó là Maria làng Bêtania, nơi cô sống với Lazarô, người mà Chúa Giêsu làm cho sống lại và chị là Mácta. Khi Chúa Giêsu đến nhà họ và trong khi Mácta đang "tất bật lo việc phục vụ", thì cô Maria này lại "cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người dạy", như Phúc âm theo Thánh Luca có viết:
"Cô có người em gái tên là Maria. Cô này cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người dạy. Còn cô Mácta thì tất bật lo việc phục vụ. Cô tiến lại mà nói: "Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay!" Chúa đáp: "Mácta! Mácta ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi".
Cũng chính cô Maria đó đã lấy dầu thơm xức chân Chúa Giêsu, khiến một số người bực tức, như mô tả của Phúc Âm theo Thánh Gioan:
" Cô Maria lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá xức chân Ðức Giêsu, rồi lấy tóc mà lau. Cả nhà sực mùi thơm. Một trong các môn đệ của Ðức Giêsu la Giuđa Ítcariốt, kẻ sẽ nộp Người, liền nói: "Sao lại không bán dầu thơm đó lấy ba trăm đồng bạc mà cho người nghèo?" Y nói thế, không phải vì lo cho người nghèo, nhưng vì y là một tên ăn cắp: y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung. Ðức Giêsu nói: "Hãy để cô ấy yên hầu cô ấy giữ lại dầu thơm này cho ngày mai táng Thầy. Thật vậy, người nghèo thì anh em luôn có bên cạnh; còn Thầy, anh em không có mãi đâu".
Nhưng trong Kinh Thánh lại có một phụ nữ khác cũng có hành động tương tự, như lời kể trong Phúc Âm theo Thánh Luca :
"Có người thuộc nhóm Pharisêu mời Ðức Giêsu dùng bữa với mình. Ðức Giêsu đến nhà người Pharisêu ấy và vào bàn ăn. Và kìa một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pharisêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Chị đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chí lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên."
Khi thấy chủ nhà phản đối, Chúa Giêsu liền nói với người phụ nữ: "Tội của chị đã được tha rồ. Lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an". Thánh Luca không nêu tên người phụ nữ này, có lẽ là vì tế nhị, nhưng việc để một phụ nữ làm nghề mãi dâm hay một phụ nữ nghèo vào nhà vào thời đó đã là rất cấp tiến. Trong Phúc Âm theo thánh Luca, tiếp theo câu chuyện nói trên, lần đầu tiên Maria Mácđala được nhắc đến và các nhà sử họ vẫn thường nghĩa rằng bà chính là phụ nữ vô danh nói trên, chứ không phải là Maria làng Bêtania. Hơn nữa, hôn chân và xỏa tóc là một cử chỉ rất thân thiết và gợi cảm. Họa sĩ Philippe de Champaigne đã mô tả cảnh này qua bức tranh " Le Repas chez Simon" dưới đây:
Mãi cho đến thời Giáo hoàng Gregoire đệ nhất, vị Giáo hoàng này mới "đơn giản hóa thủ tục hành chính" bằng cách gộp ba bà Maria nói trên thành một Maria Mácđala duy nhất trong một bài giảng nổi tiếng nhân Lễ Phục Sinh cuối thế kỹ VI. Có thể vì Ngài xem việc "thâu về một mối này" như là một bài học rất đẹp: một phụ nữ tội lỗi vì tình yêu đã hối cải, được tha tội và trở thành chứng nhân hàng đầu của sự Phục Sinh.
Nhưng về sau, vai trò của Maria Mácđala nói riêng và các phụ nữ nói chung trong Giáo hội dần dần bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Điều này được thể hiện qua một đoạn trong Sách Phúc Âm theo Thánh Maria. Khi Maria Mácđala giải thích cho các Thánh Tông đồ về những gì mà Chúa Giêsu giảng dạy cho bà, Thánh Phêrô đã phản ứng: " Làm sao mà Thầy có thể nói cho một phụ nữ những bí mật mà chúng ta không biết? Chẳng lẽ chúng ta phải nghe người phụ nữ này? Có đúng là Thầy đã chọn và ưu ái bà ấy hơn chúng ta?".
( Bài đang viết )
Thứ Ba, 19 tháng 4, 2011
Thời thanh niên, Chúa Giêsu làm gì?
Theo Sách Phúc Âm theo Thánh Máccô, dân làng Nazareht đã rất ngạc nhiên khi thấy Chúa Giêsu khôn ngoan và làm được các phép lạ. Họ liền hỏi nhau: "Ông ta không phải là bác thợ, con bà Maria, và anh em của các ông Giacôbê, Gioxê, Giuđa và Simon sao?". Nhưng trong Phúc Âm theo Thánh Mátthêu, thì câu hỏi này lại biến thành: "Ông không phải là con bác thợ mộc sao? Mẹ của ông không phải là bà Maria; anh em của ông không phải là các ông Giacôbê, Gioxép, Simon và Giuđa sao?"
Thật ra, thì chữ "thợ mộc" có thể là không chính xác. Theo giáo sư James Tabor, Đại học North Carolina, theo tiếng Hy Lạp, chữ tektone có nghĩa rộng hơn thợ mộc, tức là cũng có thể được hiểu như là "thợ xây". Nhất là vì ở xứ Galilée thời ấy, danh từ đó có lẽ dùng để nói về những người thợ làm nghề đá. Sách Phúc Âm theo Thánh Giacôbê cũng nói rằng Thánh Giuse là thợ xây nhà. Đúng là thời đó, nhà cửa chủ yếu xây bằng đá, gỗ chỉ được dùng để làm cửa hoặc sườn nóc nhà. Hơn nữa, những đồi núi Palestine rất cằn cổi, gỗ là thứ nguyên liệu rất hiếm. Bản thân Chúa Giêsu khi rao giảng cũng thường hay dùng những ẩn dụ về xây đá, chứng tỏ rất có thể Ngài rất rành về nghề này.
Trong nhiều thế kỷ, các tác phẩm nghệ thuật tôn giáo thường mô tả chàng thanh niên Jesus hào hứng làm việc trong "xưởng" mộc của cha, nhưng thực tế xã hội của xứ Galilée thời ấy hoàn toàn khác hẳn. Danh từ tektone là dùng để chỉ những người làm công nhật, "sai đâu làm đấy", gần như là nô lệ, chứ không phải là những người thợ có chuyên môn, được "công đoàn" bảo vệ và được hưởng mức lương tối thiểu. Có việc thì làm, không việc thì đói, hoá ra còn thua nô lệ, vì nô lệ ít ra còn được bảo đảm cái ăn, cái ở.
( Bài đang viết )
Thật ra, thì chữ "thợ mộc" có thể là không chính xác. Theo giáo sư James Tabor, Đại học North Carolina, theo tiếng Hy Lạp, chữ tektone có nghĩa rộng hơn thợ mộc, tức là cũng có thể được hiểu như là "thợ xây". Nhất là vì ở xứ Galilée thời ấy, danh từ đó có lẽ dùng để nói về những người thợ làm nghề đá. Sách Phúc Âm theo Thánh Giacôbê cũng nói rằng Thánh Giuse là thợ xây nhà. Đúng là thời đó, nhà cửa chủ yếu xây bằng đá, gỗ chỉ được dùng để làm cửa hoặc sườn nóc nhà. Hơn nữa, những đồi núi Palestine rất cằn cổi, gỗ là thứ nguyên liệu rất hiếm. Bản thân Chúa Giêsu khi rao giảng cũng thường hay dùng những ẩn dụ về xây đá, chứng tỏ rất có thể Ngài rất rành về nghề này.
Trong nhiều thế kỷ, các tác phẩm nghệ thuật tôn giáo thường mô tả chàng thanh niên Jesus hào hứng làm việc trong "xưởng" mộc của cha, nhưng thực tế xã hội của xứ Galilée thời ấy hoàn toàn khác hẳn. Danh từ tektone là dùng để chỉ những người làm công nhật, "sai đâu làm đấy", gần như là nô lệ, chứ không phải là những người thợ có chuyên môn, được "công đoàn" bảo vệ và được hưởng mức lương tối thiểu. Có việc thì làm, không việc thì đói, hoá ra còn thua nô lệ, vì nô lệ ít ra còn được bảo đảm cái ăn, cái ở.
Tục truyền, Thánh Giuse lớn tuổi hơn nhiều so với Mẹ Maria và đã qua đời khi Chúa Giêsu chỉ mới là thiếu niên. Có thể Thánh Giuse là cha của 4 người con trai và 2 người con gái mà Mẹ Maria đã hạ sinh trong những năm sau khi đứa con đầu tiên chào đời ( nhưng một số người thì nghĩ rằng đó chỉ là những anh chị em cùng cha khác mẹ với Chúa Giêsu ).
Trong những đoạn sau của các sách Phúc Âm, khi Chúa Giêsu bắt đầu đi rao giảng và chữa bệnh bằng phép lạ, vào độ tuổi 30, nếu như "mẹ và em" của Ngài thường được nhắc đến, thì không bao giờ thấy nói đến cha Ngài. Từ đó, một số nhà sử học suy đoán là có lẻ lúc đó Chúa Giêsu đã nắm vai trò "quyền huynh thế phụ", thay cha nuôi nấng sáu người em và người mẹ.
Nhưng như đã nói ở trên, thân phận một người không đất, không tiền, chỉ làm công nhật , " làm bữa nào, xào bữa ấy", như Chúa Giêsu lúc ấy, nuôi cả gia đình không phải đơn giản. Celse, nhà triết học Hy lạp sống vào thế kỷ thứ 2 đã kể lại giai thoại theo đó, Mẹ Maria có làm nghề đan len, kiếm thêm chút đỉnh thu nhập, nhưng chi tiết này không được ai khác xác nhận và dẫu sao cũng không thể kiểm chứng đuợc.
Chính từ thực tế của một người thợ-nông ở vùng Galilê, mà Chúa Giêsue khi giảng đạo đã kể Dụ ngôn thợ làm vườn nho:
"Nước Trời giống như chuyện gia chủ kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình. Sau khi đã thỏa thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền, ông sai họ vào vườn nho làm việc. Khoảng giờ thứ ba, ông lại trở ra, thấy có những người khác ở không, đang đứng ngoài chợ. Ông cũng bảo họ: "Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng". Họ liền đi. Khoảng giờ thứ sáu, rồi giờ thứ chín, ông lại trở ra và cũng làm y như vậy. Khoảng giờ mười một, ông trở ra và thấy còn có những người khác đứng đó, ông nói với họ: "Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết?" Họ đáp: "Vì không ai mướn chúng tôi". Ông bảo họ: "Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho!" Chiều đến, ông chủ vườn nho bảo người quản lý: "Anh gọi thợ lại mà trả công cho họ, bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người vào làm trước nhất". Vậy những người mới vào làm lúc giờ mười một tiến lại, và lãnh được mỗi người một quan tiền. Khi đến lượt những người vào làm trước nhất, họ tưởng sẽ được lãnh nhiều hơn, thế nhưng cũng chỉ lãnh được mỗi người một quan tiền. Họ vừa lãnh vừa cằn nhằn gia chủ: "Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt". Ông chủ trả lời cho một người trong bọn họ: "Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi là một quan tiền sao? Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó. Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tùy ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?" Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót. ["Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít".]"
Giáo sư James Tabor, Đại học North Carolina nêu giả thuyết là nhờ huy động những người thợ làm công nhật mà Herode Antipas, con của vua Herode Đại Đế, đã xây nên thành phố Sepphoris, nằm cách Nazareth vài km. Theo giáo sư Tabor, có thể suy luận một cách hợp lý rằng thợ mộc và thợ đá Giuse đã tham gia vào các công trường xây thành Sepphoris và chính ở những nơi đó mà cậu bé Giesu khi lớn lên đã được học những kỷ thuật sơ đẳng của nghề thợ xây. Giáo sư Tabor tính toán rằng, đặt giả thuyết Chúa Giêsu sinh vào năm thứ 5 trước Công nguyên, mà những công trình như phải kéo dài rất nhiều năm, vậy thì Chúa Giêsu lúc ấy đã đủ lớn để theo cha đến các công trường.
Trong những lúc tham gia khai quật khảo cổ ở khu thành cổ Sepphoris, giáo sư Tabor đã tự nêu câu hỏi: những lúc đục đẽo những tảng đá xây nên biểu tượng cho sự vĩ đại của Herode, chàng thanh niên Giêsu đã có suy nghĩ gì? Chúa Giêsu có đã ý thức được thân phận của một vùng đất nắm dưới sự thống trị của đế chế La Mã, thông qua Herode Đại Đế? Ngài có đã là một nhà cách mạng giải phóng dân tộc hay là một nhà tranh đấu ôn hoà? Khi tự trao cho mình sứ mạng trở thành Vua israel, Ngài có đã đo lường hết thách thức của hành động này đối với chính quyền La Mã thời ấy?
( Bài đang viết )
Thánh cả Giuse, một nhân vật mờ nhạt
Nếu có ai đó bảo quý vị: Hảy kể cho tôi nghe về Thánh Giuse, chắc là nhiều người trong chúng ta sẽ rất lúng túng, vì biết kể gì đây, ngoài một vài chi tiết sơ sài như trong Sách Phúc Âm theo Thánh Mátthêu:
" Sau đây là gốc tích Ðức Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: "Này ông Giuse, là con cháu Ðavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ." Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ:
" Sau đây là gốc tích Ðức Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: "Này ông Giuse, là con cháu Ðavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ." Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ:
Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuen, nghĩa là "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta".Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giê-su."
Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2011
Chúa Giêsu thời niên thiếu
Chúa Giêsu trải qua thời thơ ấu ở Nazareth, vùng Galilée. Cho đến năm 5 tuổi, Thánh Giuse là người dạy dỗ cho Chúa Giêsu thấm nhuần những nguyên tắc chính của đạo lý Do Thái. Nhưng sao đó thì không biết là Chúa Giêsu có đến trường hay không, vì cho đến năm 66 sau Công Nguyên, giáo dục mới trở thành bắt buộc đối với trẻ nhỏ. Nhưng một điều chắc chắn là theo tục lệ thời đó, người cha truyền nghề cho người con. Cho nên, Chúa Giêsu vừa học chữ, vừa học nghề thợ mộc của Thánh Giuse.
Cũng theo tục lệ thời ấy, đến năm 10 tuổi, các em phải học vào trường Giáo luật Do Thái. Đến năm 12 hoặc 13 tuổi thì rời trường này. Những em thông minh nhất thì được nhận vào trường "chuyên sâu", được cùng với người lớn ngồi nghe những lời thuyết giảng của các thầy giảng ( rabbi ) uyên thâm nhất. Bản thân một số em sau này cũng có thể trở thành thầy giảng. Chính vì được học trong trường này, mà khi đi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã có thể đối đáp rành mạch với những người pharisien và những thầy giảng rabbi khác.
Năm 12 tuổi, cậu thiếu niên Giêsu nay có thể theo bố mẹ trong những lần hành hương, nhất là hành hương đến Thánh Địa Jerusalem vào dịp Phục Sinh. Từ Nazareth đến Jerusalem đi bộ phải mất bốn ngày đường. Vào những lúc đó, Thánh Địa đông nghẹt người, dân số bình thuờng khoảng 50 ngàn tăng gần gấp đôi. Khách hành hương đến từ những nơi đôi khi rất xa. Họ dựng lều ở tạm trên đồi Cây Olive hoặc nếu có kiếm nhà trọ trong những ngôi làng kế cận Jerusalem. Trên nguyên tắc, người Do Thái đến hành hương ở Jerusalem không phải trả tiền nhà trọ. Nhưng đó là trên nguyên tắc, còn theo thông lệ, thì khách hành hương phải tặng cho chủ nhà trọ bộ da của con vật hiến tế, một món quà cũng khá đắt tiền.
Sau Lễ Phục Sinh, bố mẹ cậu Giêsu quay trở về Nazareth, nhưng khi ra khỏi thành phố, họ mới phát hiện con trai mình không có trong đoàn người. Sau ba ngày truy hỏi, Thánh Giuse và Mẹ Maria mới tìm thấy cậu Giêsu trong Đền thờ, như trong Phúc Âm theo Thánh Luca có viết : "Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy con trong Ðền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. Ai nghe cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đáp của cậu. Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và mẹ Người nói với Người: "Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!" Người đáp: "Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?" Nhưng ông bà không hiểu lời Người vừa nói."
( Bài đang viết )
Cũng theo tục lệ thời ấy, đến năm 10 tuổi, các em phải học vào trường Giáo luật Do Thái. Đến năm 12 hoặc 13 tuổi thì rời trường này. Những em thông minh nhất thì được nhận vào trường "chuyên sâu", được cùng với người lớn ngồi nghe những lời thuyết giảng của các thầy giảng ( rabbi ) uyên thâm nhất. Bản thân một số em sau này cũng có thể trở thành thầy giảng. Chính vì được học trong trường này, mà khi đi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã có thể đối đáp rành mạch với những người pharisien và những thầy giảng rabbi khác.
Năm 12 tuổi, cậu thiếu niên Giêsu nay có thể theo bố mẹ trong những lần hành hương, nhất là hành hương đến Thánh Địa Jerusalem vào dịp Phục Sinh. Từ Nazareth đến Jerusalem đi bộ phải mất bốn ngày đường. Vào những lúc đó, Thánh Địa đông nghẹt người, dân số bình thuờng khoảng 50 ngàn tăng gần gấp đôi. Khách hành hương đến từ những nơi đôi khi rất xa. Họ dựng lều ở tạm trên đồi Cây Olive hoặc nếu có kiếm nhà trọ trong những ngôi làng kế cận Jerusalem. Trên nguyên tắc, người Do Thái đến hành hương ở Jerusalem không phải trả tiền nhà trọ. Nhưng đó là trên nguyên tắc, còn theo thông lệ, thì khách hành hương phải tặng cho chủ nhà trọ bộ da của con vật hiến tế, một món quà cũng khá đắt tiền.
Sau Lễ Phục Sinh, bố mẹ cậu Giêsu quay trở về Nazareth, nhưng khi ra khỏi thành phố, họ mới phát hiện con trai mình không có trong đoàn người. Sau ba ngày truy hỏi, Thánh Giuse và Mẹ Maria mới tìm thấy cậu Giêsu trong Đền thờ, như trong Phúc Âm theo Thánh Luca có viết : "Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy con trong Ðền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. Ai nghe cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đáp của cậu. Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và mẹ Người nói với Người: "Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!" Người đáp: "Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?" Nhưng ông bà không hiểu lời Người vừa nói."
( Bài đang viết )
Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2011
Chúa Giêsu có phải là con một?
Đây cũng là câu hỏi mà các nhà sử học nghiên cứu về Chúa Giêsu thường đặt ra, bởi vì nếu chiếu theo Kinh Thánh, Chúa Giêsu dường như có nhiều anh em.
Sách Phúc Âm theo thánh Luca khi nói về gia đình của Chúa Giêsu đã " liệt kê" một danh sách ít nhất là sáu người con và Chúa Giêsu có vẻ là con cả của gia đình đông con này. Nhưng thế thì em trái và em gái của Chúa Giêsu là ai?
Khi Chúa Giêsu bắt đầu giảng dạy trong hội đường Do Thái Giáo ở Nazareth, cử toạ đã ngạc nhiên hỏi: " Ông ta không phải là bác thợ, con bà Maria, và anh em của các ông Giacôbê, Gioxê, Giuđa và Simon sao? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao?" Như vậy chẳng phải Chúa Giêsu có ít nhất 6 em trai, em gái là gì. Bốn người em trai của Chúa Giêsu đều mang tên của các tổ phụ. Có thể đây là dấu hiệu cho thấy gia đình Chúa Giêsu tuân thủ rất nghiêm chỉnh truyền thống Do Thái Giáo. Hai người em gái không được nêu tên cũng là điều dễ hiểu, vì đó là thời của chế độ gia trưởng.
Nhưng đó là căn cứ theo Phúc Âm theo Thánh Luca. Trên thực tế, vào thế kỷ thứ 2, giới Kytô giáo đã bất đồng với nhau về chuyện này. Đã nói là Đức Mẹ Đồng Trinh, thụ thai do quyền năng của Chúa Thánh Thần, vậy những người con kia sinh ra như thế nào?
Theo sách Phúc Âm theo Thánh Giacôbê, thật ra đó là những người con cùng cha khác mẹ với Chúa Giêsu, tức là con của Thánh Giuse có từ đời vợ trước. Thánh Epiphanius Constantiensis ( 315-402 ), trong tác phẩm Panarion đã phát triển ý này và đã được nhiều người trích dẫn vào thời Cổ Đại. Nhưng nhà văn Hégésippe (115 -180 ) nói về Giuda như "người em trai cùng dòng máu với Chúa". Nhà văn Tertullianus sống vào thế kỷ thứ 2, thứ 3 thì nhất mực bảo vệ quan điểm cho rằng Chúa Giêsu đã có một người mẹ và những người em trai như một gia đình bình thường.
Thánh Jerôme là Giáo phụ đầu tiên khẳng định rằng, những người anh em của Chúa Giêsu thật ra là anh em bà con, chứ không phải anh em ruột và Thánh Giuse cũng như Mẹ Maria đều còn trinh nguyên. Vốn là một nhà ngôn ngữ học và rất rành tiếng Do Thái, Thánh Jerôme lập luận rằng, trong tiếng Do Thái, chữ "ach" vừa có nghĩ là "anh em", nhưng vừa có nghĩa là "anh em bà con" hoặc " cháu trai". Khi dịch sang tiếng Hy Lạp Kinh Thánh Do Thái, bản dịch Septante chuyển "ach" thành "adelphos", chỉ có nghĩa là "anh em". Cho nên, trong các Phúc Âm chỉ nói là anh em của Chúa Giêsu.Nhưng vấn đề là lập luận của Thánh Jerôme khó đứng vững. Theo nhà nghiên cứu Mỹ John P.Meier, trong tiếng Hy Lạp, chữ "adelphos" không bao giờ bao hàm luôn cả " anh em bà con".
Thành ra có những người khác đưa ra giả thuyết rằng, danh từ " anh em" ở đây thật ra có nghĩa là anh em đồng đạo, giống như người pharisien thường nói với nhau trong nội bộ. Khi thánh Phaolồ viết trong Thư gửi tín hữu Ga-Lát: " Tôi đã không gặp một vị Tông Ðồ nào khác ngoài Giacôbê, người anh em của Chúa.", ý Ngài muốn nói trên anh em đồng đạo. Ai cũng thấy là người " anh em " đó đã có vai trò quan trọng như thế nào, vì Thánh Giacôbê đã được chỉ định là lãnh đạo Hội Thánh Jerusalem.
Khi nói về các môn đệ tụ họp lại sau khi Chúa Giêsu về trời, Thánh Phaolô viết trong Sách công vụ tông đồ: " Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria thần mẫu Ðức Giêsu, và với anh em của Ðức Giêsu.". Chữ anh em ở đây chắc là muốn nói đến những người đã nghe theo lời rao giảng của Chúa Giêsu.
Các Phúc Âm rất ít khi nói về gia đình Chúa Giêsu. Nhưng khi nói đến thì lại đưa ra những chi tiết khá kỳ lạ. Chẳng hạn như Phúc Âm theo Thánh Máccô viết: " Người trở về nhà và đám đông lại kéo đến, thành thử Người và các môn đệ không sao ăn uống được. Thân nhân của Người hay tin ấy, liền đi bắt Người, vì họ nói rằng Người đã mất trí." Vì sao gia đình của Chúa lại có phản ứng như vậy?
Sách Phúc Âm theo Thánh Gioan, trong chương 7 cũng có đoạn: " Thật thế, anh em Người không tin vào Người." Các nhà nghiên cứu thì xem sự kiện này như là biểu tượng phản ánh những căng thẳng giữa xu hướng theo truyền thống Jerusalem của " những người anh em " của Chúa Giêsu với truyền thống theo Thánh Gioan.
Cho đến khi Thánh Giacôbê bị hành quyết vào năm 62, Hội Thánh Jerusalem nắm quyền lãnh đạo mà không phải cũng được ai tuân phục.
Còn Chúa Giêsu thì nói gì về gia đình của Ngài? Hãy đọc Phúc Âm theo Thánh Máccô, chương 3 : " Mẹ và anh em Ðức Giêsu đến, đứng ở ngoài, cho gọi Người ra. Lúc ấy, đám đông đang ngồi chung quanh Người. Có kẻ nói với Người rằng: "Thưa Thầy, có mẹ và anh em chị em Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy!" Nhưng Người đáp lại: "Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?" Rồi Người rảo mắt nhìn những kẻ ngồi chung quanh và nói: "Ðây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em tôi, là mẹ tôi."
Thật ra, theo tác giả Daniel Marguerat, tác giả cuốn " Jesus, ses frères et ses soeurs", qua những câu nói trên, Chúa Giêsu không hề có ý đả phá thiết chế gia đình, mà muốn nhấn mạnh đến việc con người được Thiên Chúa tha thứ, xóa tội, bất kể người đó thuộc phe nhóm nào, thuộc làng xã nào hay thuộc quốc gia nào. Chính Thánh Phaolô cũng đã viết trong Thư gởi tín hữu Ga-Lát: " Không còn chuyện phân biệt Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Ðức Kitô."
Thành ra có những người khác đưa ra giả thuyết rằng, danh từ " anh em" ở đây thật ra có nghĩa là anh em đồng đạo, giống như người pharisien thường nói với nhau trong nội bộ. Khi thánh Phaolồ viết trong Thư gửi tín hữu Ga-Lát: " Tôi đã không gặp một vị Tông Ðồ nào khác ngoài Giacôbê, người anh em của Chúa.", ý Ngài muốn nói trên anh em đồng đạo. Ai cũng thấy là người " anh em " đó đã có vai trò quan trọng như thế nào, vì Thánh Giacôbê đã được chỉ định là lãnh đạo Hội Thánh Jerusalem.
Khi nói về các môn đệ tụ họp lại sau khi Chúa Giêsu về trời, Thánh Phaolô viết trong Sách công vụ tông đồ: " Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria thần mẫu Ðức Giêsu, và với anh em của Ðức Giêsu.". Chữ anh em ở đây chắc là muốn nói đến những người đã nghe theo lời rao giảng của Chúa Giêsu.
Các Phúc Âm rất ít khi nói về gia đình Chúa Giêsu. Nhưng khi nói đến thì lại đưa ra những chi tiết khá kỳ lạ. Chẳng hạn như Phúc Âm theo Thánh Máccô viết: " Người trở về nhà và đám đông lại kéo đến, thành thử Người và các môn đệ không sao ăn uống được. Thân nhân của Người hay tin ấy, liền đi bắt Người, vì họ nói rằng Người đã mất trí." Vì sao gia đình của Chúa lại có phản ứng như vậy?
Sách Phúc Âm theo Thánh Gioan, trong chương 7 cũng có đoạn: " Thật thế, anh em Người không tin vào Người." Các nhà nghiên cứu thì xem sự kiện này như là biểu tượng phản ánh những căng thẳng giữa xu hướng theo truyền thống Jerusalem của " những người anh em " của Chúa Giêsu với truyền thống theo Thánh Gioan.
Cho đến khi Thánh Giacôbê bị hành quyết vào năm 62, Hội Thánh Jerusalem nắm quyền lãnh đạo mà không phải cũng được ai tuân phục.
Còn Chúa Giêsu thì nói gì về gia đình của Ngài? Hãy đọc Phúc Âm theo Thánh Máccô, chương 3 : " Mẹ và anh em Ðức Giêsu đến, đứng ở ngoài, cho gọi Người ra. Lúc ấy, đám đông đang ngồi chung quanh Người. Có kẻ nói với Người rằng: "Thưa Thầy, có mẹ và anh em chị em Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy!" Nhưng Người đáp lại: "Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?" Rồi Người rảo mắt nhìn những kẻ ngồi chung quanh và nói: "Ðây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em tôi, là mẹ tôi."
Thật ra, theo tác giả Daniel Marguerat, tác giả cuốn " Jesus, ses frères et ses soeurs", qua những câu nói trên, Chúa Giêsu không hề có ý đả phá thiết chế gia đình, mà muốn nhấn mạnh đến việc con người được Thiên Chúa tha thứ, xóa tội, bất kể người đó thuộc phe nhóm nào, thuộc làng xã nào hay thuộc quốc gia nào. Chính Thánh Phaolô cũng đã viết trong Thư gởi tín hữu Ga-Lát: " Không còn chuyện phân biệt Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Ðức Kitô."
( Bài đang viết )
Thứ Năm, 31 tháng 3, 2011
Sự thật về việc Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thập giá
Ngay cả những nhà sử học nghi ngờ nhất hay những kẻ chỉ trích cực đoạn nhất cũng phải nhìn nhận là việc Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thập giá là sự kiện không thể chối cải được. Trong cuốn sách rất dày viết về Chúa Giêsu, nhà sử học Charles Guignebert đã viết: " Tôi rất dè dặt về những chi tiết được nêu trong Kinh Thánh. Nhưng tôi không nghĩ là có thể nghi ngờ về tính lịch vử của việc đóng đinh". Nhà thần học Alfred Loisy ( 1857-1940 ) cũng dã viết rằng :" Không có điểm nào trong các Tân Ước thật sự có cơ sở, ngoại trừ việc đóng đinh Chúa Giêsu".
Nhưng nếu đọc qua bốn Phúc Âm, ta sẽ thấy là không cuốn nào
( Bài đang viết )
Nhưng nếu đọc qua bốn Phúc Âm, ta sẽ thấy là không cuốn nào
( Bài đang viết )
Thứ Hai, 28 tháng 3, 2011
Chúa Giêsu sinh ra ngày nào?
Chúa Giêsu sinh ra ngày nào? Đừng trả lời ngay là Chúa sinh ngày 25/12, mà hãy cùng tìm hiểu về một trong những điểm " hóc búc " nhất của cuộc đời Chúa Giêsu.
Nếu đặt qua một bên khía cạnh tôn giáo, Chúa Giêsu, với tư cách một nhân vật lịch sử, là một người mà chúng ta hầu như chẳng biết gì cả, ngoại trừ việc là Ngài đã chết trên thập giá. Còn ngày sinh của Ngài thì là cả một câu hỏi to tướng. Một điều chắc chắn là Chúa Giêsu không phải là sinh ra ngày 25/12 trong năm đầu tiên của Công nguyên. Có người thì nói Ngài sinh ra vào năm thứ 4 trước Công nguyên, người khác thì khẳng định Chúa Giêsu sinh vào năm thứ 6 sau Công nguyên.
Nhưng Phúc âm theo Thánh Máccô và Phúc âm theo Thánh Gioan lại không đề cập đến sự kiện này, còn Phúc âm theo thánh Mátthêu chỉ nói là Chúa sinh ra " vào thời Vua Hêrôđê". Theo lịch sử, Vua Hêrôđê trị vì hơn 30 năm từ năm 37 đến năm 4 trước CN. Phúc âm theo Thánh Luca cũng kể lại rằng chính là " dưới thời Vua Hêrôđe" mà bà Êlisabet, bà con với Mẹ Maria, thụ thai Thánh Gioan Tẩy Giả.
Cũng theo Phúc âm thánh Luca, Mẹ Maria, lúc ấy đang mang thai, phải đi đến Bethléem, nơi mà Giuse chồng bà phải có mặt để được kiểm tra dân số "trong khắp cả thiên hạ", theo lệnh của Hoàng đế Augúttô, được thực hiện thời ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyria. Nhưng làmsao Chúa Giêsu có thể sinh ra vào thời Vua Hêrôđê, chết vào năm 4 trước CN, mà lại có thể được kiểm tra dân số dưới thời "ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyria", vào năm 6 sau CN, tức là 10 năm sau? Như vậy, theo Thánh Luca, Chúa Giêsu sinh ra vào thời điểm mà theo thánh Mátthêu, lẽ ra Ngài đã được 10 tuổi.
Cũng theo Phúc âm theo Thánh Luca, khi Ðức Giêsu khởi sự rao giảng, "Người trạc ba mươi tuổi ", vào một thời điểm được xác định là cuối năm 27 hoặc đầu năm sau CN. Trong Phúc âm theo Thánh Gioan lại có đoạn:
" Ông Ápraham là cha các ông
đã hớn hở vui mừng
vì hy vọng được thấy ngày của tôi.
Ông đã thấy và đã mừng rỡ".
Người Dothái nói: "Ông chưa được năm mươi tuổi mà đã thấy ông Ápraham!"
Làm sao mà Chúa Giêsu khi gặp Thánh Gioan Tẩy Giả vào khoảng năm 30 tuổi, mà chỉ vài năm sau đã là "chưa được năm mươi tuổi"?. Như vậy phải chăng Chúa Giêsu đã sinh ra trước 20 năm so với thời điểm mà chúng ta vẫn tưởng? Rõ ràng là các tác giả của những Phúc Âm ít quan tâm đến ngày sinh của Chúa Giêsu hơn là chúng ta.
Thành ra trong một thời gian dài, Ngày Chúa Giáng Sinh được ghi lúc này lúc khác. Tổ phụ Clément d'Alexandrie đề nghị mừng lễ Noel ngày 19/4, nhưng cũng có nhiều người chủ trương ngày 18/4 hoặc 24/3 hoặc 29/5. Các Giáo hội Phương Đông mừng Chúa ra đời ngày 6/1.
Sau nhiều tranh cãi gay gắt, mãi đến cuối triền đại Hoàng đế Constantin ( qua đời năm 337 ), Giáo hội Công giáo La Mã mới dứt khoát chọn ngày 25/12 là ngày Chúa giáng sinh, thay thế cho ngày lễ thần Mặt trời, Mythra. ( Thực tế, thì nếu chiếu theo các Phúc Âm, thì Chúa Giêsu không thể sinh vào tháng 12 được, vì ngay cả ở xứ Palestine vào thời điểm đó, trời rất lạnh, các mục đồng không thể ngủ ngoài trời với đàn gia súc của họ được.)
Hai thế kỹ sau, Dionysius Exiguus, một trong những tu sĩ La Mã uyên thâm nhất thời đó đề nghị thay thế kỷ nguyên Dioclétien ( tên một vị Hoàng Đế La Mã ) bằng Công Nguyên, với khởi điểm là Ngày chúa Giáng sinh, mà ông đặt vào năm 753 của La Mã ( tức là năm -1 của Dương Lịch ). Nhưng nhiều nghiên cứu lịch sử cho thấy là Dionysius Exiguus đã nhầm ít nhất là bốn năm! Thành ra, ví dụ như năm 2000 lẽ ra phải là năm 2004!
( Bài đang viết )
Chúa Giêsu có phải là một nhân vật có thật?
Trái với điều mà người ta tưởng, có nhiều dữ liệu về Chúa Giêsu hơn là về những nhân vật cùng thời. Đúng là nếu đi ngược dòng lịch sử trở về thời kỳ Đế Chế La Mã, ta sẽ thấy là hầu như không có ai nhắc đến nhân vật Giêsu. Ponce Pilate còn phải lo nhiều chuyện quan trọng hơn nhiều, chứ đâu có quan tâm đến việc xét xử Giêsu, một kẻ " gây rối trật tự công cộng", như biết bao người Do Thái thời đó!.
Một số nhà nghiên cứu chỉ dựa trên yếu tố trên đã vội kết luận rằng các tín đồ Thiên chúa giáo từ hơn 2000 năm qua đã tôn thờ một đấng chưa từng hiện hữu: Chúa Giêsu chỉ là một nhân vật hư cấu!
Nhưng theo giáo sư Rémi Gounelle, thuộc Đại học Thần học Tin Lành Strasbourg, vào những năm đầu tiên của Kytô giáo, những người thờ đa thần ( paien ) và những người Do Thái Giáo đã cực lực chống tôn giáo mới này. Nếu họ nghi ngờ sự tồn tại của Chúa Giêsu, thì họ đã rêu rao ngay điều đó để làm mất mặt các tín đồ Kytô giáo sơ khởi, chứ làm gì chịu để yên! Cho nên, giáo sư Gounelle khẳng định là bây giờ, không có nhà sử học nghiêm túc nào dám tuyên bố là Chúa Giêsu chưa bao giờ sống trên Trái đất này.
Ít ra là Tacite, một trong những nhà sử học lớn ở đế chế La Mã, sinh ra vào những năm 55-56. Ông đã từng viết rằng, người Kytô Giáo được gọi như vậy là vì họ là đồ đệ của Christ, " người mà Ponce Pilate giao hành hình" ( Annales, XV. 44.5 ). Trong các tác phẩm của nhà sử học Flavius Josèphe, như Antiquités juives, viết vào nhữnng năm 93-94, ông có một đoạn ngắn nói về một người mà ông gọi là " nhà hiền triết ": Giêsu đã làm các phép lạ, đã thu hút nhiều người Hy Lạp và Do Thái, đã bị các lãnh đạo Do Thái tố giác và đã bị đóng đinh; các đồ đệ của ông vẫn tin vào ông, Giêsu đã sống lại và đã hiện ra cho họ thấy.
Chỉ vài dòng như thế cũng đủ làm hao biết bao giấy mực: làm sao một ngưòi Do Thái như Flavius Josèphe lại viết tốt về Kytô giáo như thế? Có người thì nói đó là một người Kytô giáo mạo danh Josèphe, người khác thì bảo đúng ông là tác giả, người kia thì nghĩ rằng đoạn văn nói trên một phần là do Josèphe viết, nhưng một người Kytô Giáo đã viết thêm vào. Cuộc tranh cãi vẫn chưa ngã ngũ.
Muốn biết nhiều hơn về Chúa Giêsu, dĩ nhiên là phải quay sang các tác phẩm Kytô giáo. Cổ xưa nhất là các thư của Thánh Phaolô, được tập hợp lại trong Tân Ước.Trong các thư gởi cho các cộng đồng tín hữu, Thánh Phaolô thường nói đến những lời dạy mà Ngài nhận được từ Chúa Giêsu. Chẳng hạn như trong Thư gởi tín hữu Côrintô, Thánh Phaolô viết :" Cũng vậy, Chúa truyền cho những ai rao giảng Tin Mừng phải sống nhờ Tin Mừng."
( Bài đang viết )
Một số nhà nghiên cứu chỉ dựa trên yếu tố trên đã vội kết luận rằng các tín đồ Thiên chúa giáo từ hơn 2000 năm qua đã tôn thờ một đấng chưa từng hiện hữu: Chúa Giêsu chỉ là một nhân vật hư cấu!
Nhưng theo giáo sư Rémi Gounelle, thuộc Đại học Thần học Tin Lành Strasbourg, vào những năm đầu tiên của Kytô giáo, những người thờ đa thần ( paien ) và những người Do Thái Giáo đã cực lực chống tôn giáo mới này. Nếu họ nghi ngờ sự tồn tại của Chúa Giêsu, thì họ đã rêu rao ngay điều đó để làm mất mặt các tín đồ Kytô giáo sơ khởi, chứ làm gì chịu để yên! Cho nên, giáo sư Gounelle khẳng định là bây giờ, không có nhà sử học nghiêm túc nào dám tuyên bố là Chúa Giêsu chưa bao giờ sống trên Trái đất này.
Ít ra là Tacite, một trong những nhà sử học lớn ở đế chế La Mã, sinh ra vào những năm 55-56. Ông đã từng viết rằng, người Kytô Giáo được gọi như vậy là vì họ là đồ đệ của Christ, " người mà Ponce Pilate giao hành hình" ( Annales, XV. 44.5 ). Trong các tác phẩm của nhà sử học Flavius Josèphe, như Antiquités juives, viết vào nhữnng năm 93-94, ông có một đoạn ngắn nói về một người mà ông gọi là " nhà hiền triết ": Giêsu đã làm các phép lạ, đã thu hút nhiều người Hy Lạp và Do Thái, đã bị các lãnh đạo Do Thái tố giác và đã bị đóng đinh; các đồ đệ của ông vẫn tin vào ông, Giêsu đã sống lại và đã hiện ra cho họ thấy.
Chỉ vài dòng như thế cũng đủ làm hao biết bao giấy mực: làm sao một ngưòi Do Thái như Flavius Josèphe lại viết tốt về Kytô giáo như thế? Có người thì nói đó là một người Kytô giáo mạo danh Josèphe, người khác thì bảo đúng ông là tác giả, người kia thì nghĩ rằng đoạn văn nói trên một phần là do Josèphe viết, nhưng một người Kytô Giáo đã viết thêm vào. Cuộc tranh cãi vẫn chưa ngã ngũ.
Muốn biết nhiều hơn về Chúa Giêsu, dĩ nhiên là phải quay sang các tác phẩm Kytô giáo. Cổ xưa nhất là các thư của Thánh Phaolô, được tập hợp lại trong Tân Ước.Trong các thư gởi cho các cộng đồng tín hữu, Thánh Phaolô thường nói đến những lời dạy mà Ngài nhận được từ Chúa Giêsu. Chẳng hạn như trong Thư gởi tín hữu Côrintô, Thánh Phaolô viết :" Cũng vậy, Chúa truyền cho những ai rao giảng Tin Mừng phải sống nhờ Tin Mừng."
( Bài đang viết )
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)

